Chúa Nhật X thường niên - Năm A

Lm. Jude Siciliano, OP

LÒNG NHÂN HẬU CẦN HƠN CỦA LỄ

Thưa quý vị,

Chúa Giê-su kết thúc Tin mừng hôm nay bằng câu trích dẫn sách tiên tri Hôsê : “Ta muốn lòng nhân hậu chứ đâu cần lễ tế”, để bênh vực cho trường hợp của Ngài và các môn đệ dự tiệc do ông thu thuế Mattheo khoản đãi. Theo thói tục của người Do thái, thì đây là một vịêc làm chướng tai gai mắt, tiếp xúc với phường tội lỗi. Người Biệt phái đạo đức không bao giờ làm. Thực ra toàn thể biến cố Tin mừng hôm nay, phản ánh cái nhìn và linh đạo của vị ngôn sứ Hôsê, tư tưởng trở lại cùng Thiên Chúa, phải tìm kiếm Ngài và nhận biết Ngài là tình yêu tuôn đổ muôn ân phúc xuống trên dân phản loạn. “Con cái Israel bảo nhau: Chúng ta phải biết Đức Chúa, phải ra sức nhận biết Người.” Nhưng sự nhận biết này chỉ có thể là hình thức bề ngoài như lên đền thờ thường xuyên dâng lễ vật, chứ không có tâm tình yêu mến bên trong. Nói cách khác, vì những lợi ích trước mắt, để được sự che chở phần xác, của cải, mùa màng, sức khoẻ, an ninh, v.v. “Tình yêu của các ngươi khác nào mây buổi sáng, mau tan tựa sương mai.” Điều Thiên Chúa muốn là người ta tìm kiếm Ngài với sự hiểu biết của tâm hồn, khám phá ra các kế hoạch quan phòng của Ngài, dự tính cho cá nhân, xã hội, những ơn gọi riêng biệt, những nhu cầu luân lý để thăng tiến nhân loại. Tìm kiếm Ngài còn bao gồm sự tiếp xúc cá nhân với Ngài qua kinh nguyện, thánh lễ, phụng vụ, công việc bác ái. Nếu có ai không gặp Ngài là vì sự tìm kiếm của họ không thành thật, họ bỏ qua những thời gian, những cơ hội thuận tiện. Còn những người tìm kiếm Ngài chân thực với tâm hồn sùng mộ thì bao giờ họ cũng được thoả lòng vì Thiên Chúa là tình yêu bao bọc hết những ai tìm kiếm Ngài. Đó là sứ điệp của Hôsê trong bài đọc thứ nhất.

Bài đọc thứ ba thuật truyện ông Lêvi (Mattheo) trở lại theo Chúa Giê-su. Một con người tội lỗi đứng trước Thiên Chúa nhân lành. Chúa Giê-su đã ngang qua bàn thu thuế của ông với một lời kêu gọi dứt khoát “Hãy theo Ta”. Lêvi đã đứng lên và theo Chúa tức khắc, bỏ lại hết, gia đình, vợ con, danh vọng, tiền tài, quá khứ. Chúng ta không nghe thấy ông tiếc nuối điều chi. Ông đã chọn Chúa Giê-su trên tất cả giàu sang thế gian. Một sự từ bỏ rất hào hiệp để đi vào tương lai vô định do Chúa dẫn dắt. Đây quả thực là sự sống lại của một tâm hồn và là bằng chứng cụ thể sứ vụ của Chúa Giê-su đang mạng lại hoa quả cho những ai ngay thẳng. Sứ vụ của Ngài giống như cơn mưa mùa xuân làm cho đất đâm chồi nảy lộc. Tiếng gọi của Ngài mang lại ơn cứu rỗi cho những ai khao khát được Thiên Chúa yêu thương. Nhiệm vụ của con người là phải có lòng tin vững chắc nơi Thiên Chúa, tựa như tổ phụ Apraham mà thánh Phaolô chưng ra làm ví dụ trong bài đọc thứ hai.

Trước khi khai triển tư tưởng thâm sâu của thánh nhân, chúng ta nên biết chút ít về bối cảnh giáo đoàn Rôma mà phụng vụ hôm nay trích đọc. Giáo đoàn này gồm nhiều thành phần sắc tộc và văn hoá. Họ là những cư dân Rôma gồm các tín hữu gốc Do thái và tín hữu gốc dân ngoại. Họ là thương gia mới nhập cư hoặc công dân kỳ cựu, đàn ông đàn bà thuộc nhiều tầng lớp xã hội, trí thức, luật gia, nômg dân, thương nhân, giàu có, nghèo khổ, tự do, nô lệ. Dĩ nhiên, họ là thành phần thiểu số trong dân cư thành phố. Đức tin của họ khác hẳn với các tầng lớp khác trong xã hội Rôma. Họ cần sự hướng dẫn luân lý, thần học để có thể sống còn giữa những tư tưởng ngoại giáo, những giá trị hoàn toàn trần tục. Như vậy, họ phải đối mặt với vấn đề nội bộ, đồng thời chống trả các căng thẳng xã hội. Như vậy, khi viết thư cho họ, thánh Phaolô phải tính đến những yếu tố này. Nói chung, thư từ là để giải quyết các khó khăn đặc thù trước mắt. Cho nên, chúng ta không thể tìm thấy toàn thể giáo thuyết của thánh Phaolô trong một lá thư, đáp ứng nhu cầu tức thời và trả lời những câu hỏi của Giáo hội địa phương ấy đặt ra.
Tuy nhiên, các lá thư được giữ lại và truyền tay nhau đọc trong các địa phương khác. Bởi vì, thường thường thánh Phaolô bàn giải về những đề tài lớn có thể áp dụng cho toàn thể Giáo hội. Thí dụ, trở nên một tạo vật mới, chết và sống lại với Đức Ki-tô, sự sống trong Thánh thần, cụ thể hoá Phúc âm trong những hoàn cảnh riêng lẻ. Như vậy, mặc dù ngài viết vì nhu cầu của một Giáo hội, chúng ta vẫn có thể tìm ra điểm chung thuộc về gia sản toàn cầu của Hội thánh. Vấn đề của lá thư Rôma là sự căng thẳng nội bộ giữa các tín hữu Do thái và các tín hữu dân ngoại. Những người Do thái lấy làm xúc phạm khi các tín hữu dân ngoại không giữ luật Môsê, hơn nữa nhiều khi có sự xoá bỏ hoàn toàn như việc ăn uống những thứ mà người Do thái không bao giờ bỏ vào miệng, không cắt bì cho trẻ nam sơ sinh như luật Môsê dạy. Tín hữu dân ngoại cho rằng những luật lệ đó không hợp với ý muốn của Chúa Giê-su. Các tín hữu Do thái đòi mọi người tiếp tục tuân giữ Ngũ kinh như tiêu chuẩn đời sống tôn giáo để được nên công chính. Ngược lại, các tín hữu dân ngoại nhấn mạnh sự công chính nhờ ơn thánh mà thôi. Đúng theo tinh thần của ngôn sứ Hôsê và Chúa Giê-su trong Tin mừng, thánh Phaolô cũng đặt con người trước Thiên Chúa mà trả lại tự do cho các tín hữu khỏi gánh nặng lề luật. Trường hợp của Apraham, ông được kể là người công chính rất lâu trước khi có lề luật Môsê, nguyên chỉ do đức tin vào Thiên Chúa, vì ông hoàn toàn xác tín : “Điều gì Thiên Chúa đã hứa, thì Người có đủ quyền năng thực hiện. Bởi thế, ông được kể là người công chính.” Không mạnh mẽ như các thư gửi tín hữu Galata và Côrintô, ở đây thánh nhân chỉ củng cố người Rôma về đức tin của mình và giúp đỡ hàn gắn những chia rẽ do các lập trường khác nhau gây nên. Ông nhắc nhở họ, cả hai bên, Do thái và dân ngoại, đều có nhu cầu cứu rỗi, bởi vì “tất cả đều đã phạm tội”(3, 24). Thánh nhân nghiêng về phía tín hữu gốc dân ngoại, bởi họ cũng giống như Apraham có đức tin tinh tuyền vào Thiên Chúa. Ông nói : “Dù thế nào đi nữa, thì đối tượng đức tin của chúng ta bây giờ là một, cho cả Do thái và dân ngoại, đó là Đức Giê-su Ki-tô.” Qua bí tích Rửa tội, chúng ta kết hợp với nguồn ơn cứu rỗi duy nhất là Đức Giê-su thành Nazareth, vì thế chúng ta đã thực sự chết đối với tội lỗi. Cho nên, không còn thuộc về lề luật nữa mà chỉ duy vâng phục Thiên Chúa qua Thần khí Đức Ki-tô.

Lề luật trói buộc chúng ta vào “xác thịt”, mọi người đều dễ tổn thương do lề luật. Xác thịt không phải là tội lỗi, nhưng đối với thánh nhân là thành phần yếu đuối nhất của bản tính nhân loại, bản tính đã hư hỏng và làm tôi cho quyền lực satan. Thánh nhân nhắc nhở, khi chúng ta nhượng bộ cho các cám dỗ và thói xấu thế gian là chúng ta đã sống theo xác thịt. Chính thánh nhân trước kia đã sống theo kiểu này, tức sống theo lề luật. Nhưng khi trở lại chấp nhận Đức Ki-tô làm Chúa đời mình, thì quan điểm của ông về ơn cứu rỗi hoàn toàn thay đổi. Ông đối diện trực tiếp với Thiên Chúa qua tinh thần Đức Ki-tô, chứ không phải qua lề luật nữa. Ông hy vọng cộng đồng tín hữu Rôma cũng sẽ liên kết với nhau qua quan điểm mới, tức đời sống trong Đức Ki-tô. Vậy thì tính đa dạng của cộng đồng Do thái, Hy lạp, nô lệ, tự do, đàn ông, đàn bà, không còn là yếu tố chia rẽ, nhưng là một dấu chỉ cánh chung của điều mai ngày sẽ trở thành viên mãn, tức triều đại của Thiên Chúa, gồm đủ mọi dân tộc trên địa cầu. Những dân tộc này cũng cần được kêu gọi và cứu rỗi như trường hợp của Mattheo và cũng cần được tình yêu Chúa bao bọc như linh đạo Hôsê : Tìm kiếm Thiên Chúa và được nhận biết Ngài như tình yêu thắm thiết và vô biên.

Thánh Phaolô đã chỉ rõ ràng đức tin của Apraham là yếu tố dẫn ông đến trạng thái được Thiên Chúa coi là công chính. Ông đã tin cậy Thiên Chúa sẽ hành động cho tương lai của dòng dõi ông với cùng quyền năng của Đấng sáng tạo vũ trụ. Thiên Chúa sẽ làm nảy sinh sự sống nơi cái chết. Thánh Phaolô biết : “Ông (Apraham) đã gần một trăm tuổi, nhưng ông vẫn tin không nao núng, khi nghĩ rằng thân xác ông cũng như dạ bà Sara đã chết. Ông đã chẳng mất niềm tin, chẳng chút nghi ngờ lời Thiên Chúa hứa.” Đấng tạo thành vũ trụ sẽ lập lại hành động tạo dựng và mặc dù chỉ là thân xác hết đường sinh nở, hai ông bà vẫn được Chúa cho sinh con. Apraham hy vọng chống lại khả năng mơ ước của loài người, nói cách khác, hy vọng hão huyền, theo lối hiểu biết của chúng ta. Sau này, thánh nhân áp dụng tư tưởng ấy vào đức tin của các tín hữu : Thiên Chúa sẽ cho sự sống nảy sinh nơi kẻ chết : “Thiên Chúa sẽ nâng con của Ngài là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta trỗi dậy từ cõi chết.” Đối với người Do thái, không ai dám nghi ngờ tổ phụ họ là đấng công chính theo lề luật, tức giữ luật trong sự vâng phục Thiên Chúa, mặc dù ông sống nhiều thế kỷ trước lề luật. Ong đã vâng lời Thiên Chúa sẵn sàng hy sinh đứa con duy nhất theo lời hứa là Isaac. Ông được Kinh thánh Do thái kêu là cha của nhiều dân tộc. Như vậy, thánh Phaolô có ý ám chỉ chẳng cần cắt bì, chẳng cần lề luật Môsê, Apraham vẫn là người công chính, tổ phụ của những kẻ có lòng tin, Do thái hay dân ngoại. Như vậy, những ai theo Chúa Giê-su và Tin mừng của Ngài thành thực vẫn là những người công chính, không cần qua lề luật Do thái. Thánh Phaolô đã làm một cuộc cách mạng theo ân soi sáng lật đổ tư duy vụ luật của người Do thái. Và các tín hữu an tâm khi có đức tin như Apraham, tin vào lời hứa của Thiên Chúa, được tỏ hiện nơi Đức Giê-su, thì đều được tuyên bố là “công chính”.

Đức tin của Apraham sắt đá, không chi lay chuyển nổi, mặc dù là ông đã chết, bụng dạ vợ ông đã chết, về đàng sinh nở. Tuy nhiên, ông vẫn vững lòng tin Thiên Chúa cho sinh con. Và đức tin ấy không đặt căn bản trên loài người, nhưng hoàn toàn trên quyền năng của Thiên Chúa. Do đó, người tín hữu chúng ta phải noi gương Apraham tin vững mạnh vào Thiên Chúa, Đấng dẫn dắt chúng ta qua mọi khó khăn, đến sự sống mặc dù chúng ta đang sống dưới quyền năng của sự chết : chiến tranh, ngừa thai, phá thai, khủng bố. Chúng ta không được phép ngã lòng. Chính thánh Phaolô đề nghị chúng ta noi gương các tổ phụ Do thái, tin kính vững mạnh vào Thiên Chúa, Đấng ban sự sống ngay cả khi hoàn toàn thất vọng. Đấng đã ban cho Apraham và Sara sinh con, Đấng nâng Đức Ki-tô trỗi dậy từ cõi chết, Đấng cũng sẽ làm cho chúng ta sống lại để được sống muôn đời.

Trong buổi phụng vụ hôm nay và trong suốt cuộc đời chúng ta, lời kêu gọi của thánh Phaolô có ảnh hưởng ra sao ? Đúng lý, đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa, Đấng tạo hoá, Đấng đã cho Đức Ki-tô phục sinh, Đấng ban Thần khí cho muôn loài, phải đủ khả năng dẫn đưa chúng ta qua những khó khăn chồng chất. Thí dụ những gương mù gương xấu của hàng giáo sĩ, của người tín hữu không can đảm tuyên xưng danh Chúa giữa những môi trường vô đạo, các tham lam, lừa đảo trong cuộc sống hằng ngày. Mặt khác, chúng ta cũng từng được chứng kiến những gương can đảm của các tín hữu nhiệt thành, họ giữ đạo bằng đời sống, chứ không nguyên bằng môi miệng. Vài tuần qua, trên tờ nhật báo New York Time, có một bảng cáo phó cái chết của luật sư Thomas J. Concannon, qua đời vì bệnh ung thư. Khi còn trẻ, anh ta đã đi du lịch ở Afghanistan, một đêm hè anh ta bị sốc mạnh vì một quang cảnh đẹp. Một người cưỡi lạc đà dẫn đàn vật của mình qua sa mạc. Bóng của đàn vật in lên nền trời đầy sao. Sự đơn sơ và vẻ huy hoàng của cảnh đẹp làm anh ngây ngất và thay đổi hẳn quan niệm về sự sống. Sống không phải để hưởng thụ, nhưng để giúp đỡ và tô vẽ cho đời thêm tươi sáng. Anh quyết định học luật dân sự và thi hành nghề bênh đỡ những người nghèo khổ ở toà án New York. Nhiều năm anh ngồi trong ghế luật sư của những người nghèo khổ, bất chấp căn bệnh quái ác đang đến ngày phát triển cuối cùng. Được hỏi tại sao anh không nghỉ ? Anh trả lời : “Đằng nào thì cũng chết, cố gắng ngày nào hay ngày đó, đến tận cùng thì thôi.” Ai có thể ban nghị lực cho anh nếu không phải là Thiên Chúa, Đấng đã giúp anh dù phải đối diện với cái chết, cũng tìm ra can đảm để giúp đỡ tha nhân ? Sự sống nảy sinh từ cõi chết.

Trên bắc bán cầu chúng ta đang ở tháng 6 dương lịch, thiên nhiên đang bừng lên sự sống mới. Điều mà xem ra không có khả năng sau một mùa đông dài. Cây cối chết khô, cành lá trơ trịu, mặt đất u sầu toàn màu chết chóc. Vậy mà chỉ thoáng qua một đêm, sự sống lại bùng lên, như con bươm bướm thoát ra từ tổ kén. Quyền năng của Thiên Chúa, Đấng tạo hoá, quá rõ ràng. Nó ở khắp chung quanh chúng ta. Nhưng thánh Phaolô trong bài đọc hai, không chỉ nói đến sự đảo ngược của thiên nhiên, mà còn cho chúng ta hay bằng con mắt đức tin vào Chúa Ki-tô, chúng ta phải nhìn thấy sự sống trong những hoàn cảnh chết chóc của thế giới, chiến tranh, nghèo đói, bạo lực, aids, xì ke, ma tuý, đĩ điếm, …. Chúng ta được kêu gọi đối phó với những sự kiện ấy bằng cuộc sống nhân chứng bền bỉ và chân thành, bày tỏ cho thiên hạ thấy rõ nội dung niềm tin của mình. Bởi lẽ, Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống chứ không phải của kẻ chết.
Nhưng kẻ chết là thế nào ? Là những người câm lặng khi phải nói ra. Là kẻ tiêu thụ cho mình quá nhiều khi người khác đang trong nhu cầu cấp thiết. Là khách bàng quan khi nạn nhân cần giúp đỡ. Là kẻ vô cảm trước đau khổ của tha nhân. Là người tham lam thu tích khi thiên hạ gặp cơn đói khát, cơ cực. Là kẻ phung phí khi cần đến tiết kiệm. Là người keo kiệt khi rộng rãi được cần đến để cứu giúp các nạn nhân thiên tai, dịch hoạ. Là kẻ ươn lười khi phải chăm chỉ để có cơm ăn áo mặc. Là người sống nhung lụa khi cần đến ăn chay hãm mình, khổ chế. Là người ưa sai bảo khi phục vụ là bổn phận của mình. Làm thế nào để những loại người này ra khỏi mồ chôn và chiến thắng sự chết ? Thánh Phaolô viết : “Tạ ơn Thiên Chúa, qua Đức Giê-su Ki-tô”, hay như bài đọc hôm nay : “Đức tin vào Đấng đã làm cho Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta từ cõi chết sống lại”. Gương của ông Lêvi thu thuế, đứng dậy may mắn theo Chúa Giê-su, thúc đẩy chúng ta hành động tương tự. Amen.